Hội Trám có lẽ là lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn thực, đề cao tính dục của người dân đồng bằng Bắc bộ, nơi vốn mang đậm tín ngưỡng của nền văn hóa lúa nước, với những lễ đầu xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt…Hội Trám được người dân xã Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ bảo tồn từ bao đời nay với đặc trưng riêng của mình. 

Mở đầu lễ hội là lễ mật, còn gọi là lễ “linh tinh tình phộc”. Sau lễ tế (thường bắt đầu vào lúc 23 giờ kém ngày 11 tháng giêng) do 13 bô lão trong làng thực hiện, đúng giờ Tý (0h) cụ từ miếu Trò thắp hương và rước nõ, nường – hai vật biểu thị cho hai giới tính nam và nữ (được làm bằng gỗ mít, sơn son đỏ) thờ trên ban Thượng miếu Trò xuống và trao cho một đôi nam nữ đã được chọn từ trước.

Lễ hội Linh tinh tình phộc
Lễ Linh tinh tình phộc
Nam đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ, cầm nõ; nữ mặc yếm, váy ngắn thâm, đầu vấn khăn, cầm nường. Sau khi làm lễ khấn thần miếu xong, cụ từ xin âm dương rồi hô khẩu lệnh: Linh tinh tình phộc! (hô ba lần). Lúc này, tất cả đèn, nến trong và ngoài miếu đều tắt hết. Sau mỗi câu khẩu lệnh: “Linh tinh tình phộc”, đôi nam nữ cầm “nõ, nường” làm các thao tác hoạt động tính giao. Mỗi lần hai vật âm dương chạm nhau, chiêng trống lại nổi lên, dân làng đứng xung quanh miếu lại reo hò vui vẻ - không khí tĩnh mịch giữa đêm khuya được sống dậy tưng bừng.

Sau lễ “Linh tinh tình phộc”, còn có trò “Rước lúa thần” được tổ chức hết sức long trọng vào sáng 12 tháng giêng. Lúa thần là những bông lúa thật to, thật mẩy, lá lúa được tượng trưng bằng lá mía được đặt trên hương án kiệu, giữa cắm một gióng mía to, róc vỏ. Trò “Rước lúa”, ngoài mục đích cầu mong cho mùa màng tươi tốt còn là sự ngợi ca lòng biết ơn của dân làng đối với các vua Hùng - những người đã dạy cho người dân nghề trồng lúa nước.



Phần sau cùng của Trò Trám là hội trình nghề “tứ dân chi nghiệp” (sĩ, nông, công, thương) hay còn gọi là trò “Bách nghệ khôi hài”. Nói là “tứ dân” nhưng thực ra có rất nhiều nghề. Họ diễn trò tại sân miếu rồi kéo ra các đường làng. Ở Trò Trám không có những trò đề cao tài trí, đề cao tinh thần thượng võ... mà chỉ có những trò (và những lời ca) vui nhộn, thậm chí rất tục, mang tính hài hước, mua vui, rất gần với sinh hoạt đời thường (bởi vậy những trò này còn được gọi là trò “nhây nhả”). Truyền thuyết cho rằng “tứ dân chi nghiệp” xuất hiện từ lâu nhằm tiến cúng tổ Hùng Vương và thần Tản Viên đã có công lao dạy cho dân Lạc Việt các nghề nông và thủ công từ thuở dựng nước. Để tỏ lòng biết ơn, hằng năm, dân mở hội trình với thần linh các nghề nghiệp của làng, cầu mong được phù hộ. Dần dần, có sự phân biệt giữa các giới, các ngành; trò trình bốn nghề nghiệp chính: Sĩ, nông, công, thương. Trong ngày hội “bách nghệ khôi hài”, các nhân vật công diễn các vai thợ cày, thợ cấy, thợ mạ, thợ gặt, thợ mộc, người chăn tằm, dệt vải, thầy đồ, thầy thuốc, thầy cúng, người đi buôn, đi câu, bắt cá,… với những động tác, ngôn ngữ gây cười cho dân làng. “Bách nghệ khôi hài” là ngày hội tự do, chỉ tuân thủ các nghi thức cần thiết khi hành lễ, các trò chơi đều do quần chúng tham gia tự phát. Do đó, nó có những màn hoạt cảnh, mang nhiều yếu tố của sân khấu dân gian. Bổ sung cho các động tác là những lời ca, những lời ca ngoa dụ, phong phú, đầy ẩn ý, vừa được nâng cao về mặt nghệ thuật, vừa giữ tính chất hài hước; luôn gợi mở sự liên tưởng, tục nhưng thanh…

Trước kia do định kiến cho rằng màn “linh tinh tình phộc” tục tĩu nên suốt một thời gian dài mấy chục năm sau cách mạng tháng Tám nó bị cấm cửa, không được diễn mặc cho mỗi độ tiết mưa phùn đầu xuân, dân Tứ Xã lại tha thiết nhớ về hội vui thủa nào. Đến năm 2001, khi miếu Trò được dựng lại, thì người xóm Trám thật vô cùng hãnh diện. Miếu Trò, nơi diễn ra trò Trám, từ đó hằng năm đã trở thành trung tâm lễ hội của người Tứ Xã, Lâm Thao; thành nét đẹp riêng có của lễ hội Phú Thọ.

Lễ hội Trò Trám - Lễ hội phồn thực đáo của Phú Thọ

Hội Trám có lẽ là lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn thực, đề cao tính dục của người dân đồng bằng Bắc bộ, nơi vốn mang đậm tín ngưỡng của nền văn hóa lúa nước, với những lễ đầu xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt…Hội Trám được người dân xã Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ bảo tồn từ bao đời nay với đặc trưng riêng của mình. 

Mở đầu lễ hội là lễ mật, còn gọi là lễ “linh tinh tình phộc”. Sau lễ tế (thường bắt đầu vào lúc 23 giờ kém ngày 11 tháng giêng) do 13 bô lão trong làng thực hiện, đúng giờ Tý (0h) cụ từ miếu Trò thắp hương và rước nõ, nường – hai vật biểu thị cho hai giới tính nam và nữ (được làm bằng gỗ mít, sơn son đỏ) thờ trên ban Thượng miếu Trò xuống và trao cho một đôi nam nữ đã được chọn từ trước.

Lễ hội Linh tinh tình phộc
Lễ Linh tinh tình phộc
Nam đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ, cầm nõ; nữ mặc yếm, váy ngắn thâm, đầu vấn khăn, cầm nường. Sau khi làm lễ khấn thần miếu xong, cụ từ xin âm dương rồi hô khẩu lệnh: Linh tinh tình phộc! (hô ba lần). Lúc này, tất cả đèn, nến trong và ngoài miếu đều tắt hết. Sau mỗi câu khẩu lệnh: “Linh tinh tình phộc”, đôi nam nữ cầm “nõ, nường” làm các thao tác hoạt động tính giao. Mỗi lần hai vật âm dương chạm nhau, chiêng trống lại nổi lên, dân làng đứng xung quanh miếu lại reo hò vui vẻ - không khí tĩnh mịch giữa đêm khuya được sống dậy tưng bừng.

Sau lễ “Linh tinh tình phộc”, còn có trò “Rước lúa thần” được tổ chức hết sức long trọng vào sáng 12 tháng giêng. Lúa thần là những bông lúa thật to, thật mẩy, lá lúa được tượng trưng bằng lá mía được đặt trên hương án kiệu, giữa cắm một gióng mía to, róc vỏ. Trò “Rước lúa”, ngoài mục đích cầu mong cho mùa màng tươi tốt còn là sự ngợi ca lòng biết ơn của dân làng đối với các vua Hùng - những người đã dạy cho người dân nghề trồng lúa nước.



Phần sau cùng của Trò Trám là hội trình nghề “tứ dân chi nghiệp” (sĩ, nông, công, thương) hay còn gọi là trò “Bách nghệ khôi hài”. Nói là “tứ dân” nhưng thực ra có rất nhiều nghề. Họ diễn trò tại sân miếu rồi kéo ra các đường làng. Ở Trò Trám không có những trò đề cao tài trí, đề cao tinh thần thượng võ... mà chỉ có những trò (và những lời ca) vui nhộn, thậm chí rất tục, mang tính hài hước, mua vui, rất gần với sinh hoạt đời thường (bởi vậy những trò này còn được gọi là trò “nhây nhả”). Truyền thuyết cho rằng “tứ dân chi nghiệp” xuất hiện từ lâu nhằm tiến cúng tổ Hùng Vương và thần Tản Viên đã có công lao dạy cho dân Lạc Việt các nghề nông và thủ công từ thuở dựng nước. Để tỏ lòng biết ơn, hằng năm, dân mở hội trình với thần linh các nghề nghiệp của làng, cầu mong được phù hộ. Dần dần, có sự phân biệt giữa các giới, các ngành; trò trình bốn nghề nghiệp chính: Sĩ, nông, công, thương. Trong ngày hội “bách nghệ khôi hài”, các nhân vật công diễn các vai thợ cày, thợ cấy, thợ mạ, thợ gặt, thợ mộc, người chăn tằm, dệt vải, thầy đồ, thầy thuốc, thầy cúng, người đi buôn, đi câu, bắt cá,… với những động tác, ngôn ngữ gây cười cho dân làng. “Bách nghệ khôi hài” là ngày hội tự do, chỉ tuân thủ các nghi thức cần thiết khi hành lễ, các trò chơi đều do quần chúng tham gia tự phát. Do đó, nó có những màn hoạt cảnh, mang nhiều yếu tố của sân khấu dân gian. Bổ sung cho các động tác là những lời ca, những lời ca ngoa dụ, phong phú, đầy ẩn ý, vừa được nâng cao về mặt nghệ thuật, vừa giữ tính chất hài hước; luôn gợi mở sự liên tưởng, tục nhưng thanh…

Trước kia do định kiến cho rằng màn “linh tinh tình phộc” tục tĩu nên suốt một thời gian dài mấy chục năm sau cách mạng tháng Tám nó bị cấm cửa, không được diễn mặc cho mỗi độ tiết mưa phùn đầu xuân, dân Tứ Xã lại tha thiết nhớ về hội vui thủa nào. Đến năm 2001, khi miếu Trò được dựng lại, thì người xóm Trám thật vô cùng hãnh diện. Miếu Trò, nơi diễn ra trò Trám, từ đó hằng năm đã trở thành trung tâm lễ hội của người Tứ Xã, Lâm Thao; thành nét đẹp riêng có của lễ hội Phú Thọ.
Đọc thêm..
Khu di tích đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích xã Hy Cương huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, là tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km, cách thủ đô Hà Nội 90km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng thuộc đất Phong Châu vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Đầu xuân, đi lễ đền Hùng để cầu an khang thịnh vượng cho cả năm gặp nhiều may mắn.

du-lich-den-hung-xuan-2015
Du lịch tết 2015 - Thăm quan đền Hùng
Hành trình thăm quan
Hà Nội – Đền Hùng – Tre Nguồn.
6h00: Xe đón đoàn tại Hà Nôi, đi Đền Hùng.
8h00: Đến Đền Hùng, đoàn vào thăm quan Đền.
10h30: Đoàn lên xe về Tre Nguồn.
11h30: Tới Tre Nguồn, Quý khách cất đồ tại Nhà sàn. Sau đó dùng bữa trưa tại Nhà hàng.
Buổi chiều: Quý khách nghỉ ngơi, tắm khoáng nóng tại 02 bể bơi Tre Nguồn. Hoặc tự do thăm quan làng quê,vãn cảnh.
16h30: Quý khách dùng bữa phụ tại Nhà hàng.
17h30: Quý khách ra xe về Hà Nội kết thúc chuyến thăm quan

Bảng giá chương trình:
Đoàn khách
Từ 29 – 45 khách
Từ 15 – 28 khách
Từ 10 – 14 khách
Giá chương trình
560.000 Đ
640.000 Đ
690.000 Đ

- Trẻ em dưới 5 tuổi miễn phí, ngồi cùng ghế với bố mẹ.
- Trẻ em từ 5 đến 10 tuổi tính: 75% giá người lớn.
- Trẻ em từ 11 tuổi trở lên tính như người lớn.
- Hai người lớn được kèm 1 trẻ em.

Giá trên bao gồm:
- Xe đưa đón từ Hà Nội – Đền Hùng – Tre Nguồn.
- Hướng dẫn viên theo đoàn.
- Ăn bữa trưa sét: 180.000Đ/ khách.
- Tắm khoáng nóng tại 02 bể bơi Tre Nguồn.
- Nghỉ trưa tại nhà sàn.
- Ăn bữa phụ.
- Vé thăm quan Đền Hùng.
Giá trên không bao gồm:
- Đồ uống, khăn lạnh.
- Tiền tip cho HDV.
- Chi phí cá nhân.
- Thuế VAT.
- Vé xe điện thăm quan đền Hùng.

Du lịch tết 2015 - Thăm quan đền Hùng 1 ngày

Khu di tích đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích xã Hy Cương huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, là tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km, cách thủ đô Hà Nội 90km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng thuộc đất Phong Châu vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Đầu xuân, đi lễ đền Hùng để cầu an khang thịnh vượng cho cả năm gặp nhiều may mắn.

du-lich-den-hung-xuan-2015
Du lịch tết 2015 - Thăm quan đền Hùng
Hành trình thăm quan
Hà Nội – Đền Hùng – Tre Nguồn.
6h00: Xe đón đoàn tại Hà Nôi, đi Đền Hùng.
8h00: Đến Đền Hùng, đoàn vào thăm quan Đền.
10h30: Đoàn lên xe về Tre Nguồn.
11h30: Tới Tre Nguồn, Quý khách cất đồ tại Nhà sàn. Sau đó dùng bữa trưa tại Nhà hàng.
Buổi chiều: Quý khách nghỉ ngơi, tắm khoáng nóng tại 02 bể bơi Tre Nguồn. Hoặc tự do thăm quan làng quê,vãn cảnh.
16h30: Quý khách dùng bữa phụ tại Nhà hàng.
17h30: Quý khách ra xe về Hà Nội kết thúc chuyến thăm quan

Bảng giá chương trình:
Đoàn khách
Từ 29 – 45 khách
Từ 15 – 28 khách
Từ 10 – 14 khách
Giá chương trình
560.000 Đ
640.000 Đ
690.000 Đ

- Trẻ em dưới 5 tuổi miễn phí, ngồi cùng ghế với bố mẹ.
- Trẻ em từ 5 đến 10 tuổi tính: 75% giá người lớn.
- Trẻ em từ 11 tuổi trở lên tính như người lớn.
- Hai người lớn được kèm 1 trẻ em.

Giá trên bao gồm:
- Xe đưa đón từ Hà Nội – Đền Hùng – Tre Nguồn.
- Hướng dẫn viên theo đoàn.
- Ăn bữa trưa sét: 180.000Đ/ khách.
- Tắm khoáng nóng tại 02 bể bơi Tre Nguồn.
- Nghỉ trưa tại nhà sàn.
- Ăn bữa phụ.
- Vé thăm quan Đền Hùng.
Giá trên không bao gồm:
- Đồ uống, khăn lạnh.
- Tiền tip cho HDV.
- Chi phí cá nhân.
- Thuế VAT.
- Vé xe điện thăm quan đền Hùng.
Đọc thêm..
Trong 47 lễ hội được tổ chức thường niên trên kinh đô Văn Lang xưa thì Lễ hội rước voi làng Đào Xá (Thanh Thủy) lại mang những nét văn hóa đặc sắc rất riêng.

Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm, không khí ấm áp, trong lành, cây cối đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa đua nở, muôn vật sinh sôi phát triển và mọi người mong sao cuộc sống có nhiều thay đổi tốt đẹp. Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội, con người lại tìm về cội nguồn, nhớ đến tổ tiên, nhắc nhở về lịch sử và truyền thống hào hùng của dân tộc qua những hình thức của lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian.

lễ hội rước voi ở Đào xá
lễ hội rước voi ở Đào xá

Làng Đào Xá là miền đất cổ, có nền văn hoá lâu đời cách đây khoảng 1.800 năm thuộc vùng đất Khuất Động Liêu, thuở khai sơ có tên là Làng Dâu, Làng Da, sau này đổi tên thành làng Đào Xá. Theo đó, đình và đền Đào Xá cũng đã có từ rất lâu đời. 

Đình Đào Xá thờ Hùng Hải Công để tỏ lòng tri ân công đức của vị thánh nhân đã có công giúp dân khai thiên lập địa. Tương truyền vào thời Hùng Vương dựng nước, Hùng Hải được anh là Vua Hùng cử đến cai quản vùng Tam Giang (nơi giáp 3 con sông: sông Đà, sông Hồng và sông Bứa) gồm địa phận Đào Xá, Hưng Hoá và Thọ Xuyên. Ngày 28 tháng Giêng năm ấy hai ông bà cùng đi thuyền du xuân từ Thọ Xuyên sang Đào Xá dựng lầu nghỉ ở đây một đêm, sống trong sự giao hòa của trời đất, sau về Trang Hoa thụ thai và sinh được 3 người con trai đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Các con vừa cất tiếng khóc chào đời thì Trang Hoa hoá thân. Hùng Hải ở lại dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản còn mình về trông nom miền sông Nhị (địa phận tỉnh Hải Dương ngày nay).

Đền Đào Xá còn có tên gọi là đền Tam Công thờ 3 vị Thuỷ thần con của Hùng Hải Công, đó là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bên cạnh đó, đền Đào Xá còn thờ bà Trang Hoa công chúa là vợ của Hùng Hải Công và thờ bà Quế Hoa - người hầu của Trang Hoa công chúa.

Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại. Trước khi chia tay về sông Nhị, ông đã dẫn đôi voi về làm lễ tạ 3 lần. Cuộc tiễn đưa Hùng Hải ra đi đầy quyến luyến và cảm động. Sau này với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” nhân dân Đào Xá đã tôn ông làm Thành Hoàng làng, lập đình thờ tại đây, hàng năm tổ chức tế lễ, mở hội rước voi truyền thống

Cứ mỗi độ xuân về, hội rước voi Đào Xá mở trong ba ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng âm lịch. Đây cũng là những nét đẹp văn hóa tâm linh, mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, với mỗi người dân địa phương, đây cũng là dịp dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, dựng làng, cầu phúc, cầu may, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, dân an, nước thịnh. Lễ hội gồm 2 phần, phần lễ và phần hội.

Phần lễ tiến hành rước voi, hương án, long báu, bài vị, hòm sắc và tế Thành Hoàng.

Lễ hội rước voi Đào Xá
Lễ hội rước voi Đào Xá

Phần hội tổ chức nhiều trò chơi dân gian như đánh vật, cướp gà, lấy nước, giã gạo, kéo lửa nấu cơm thi…

Toàn bộ lễ hội rước voi Đào Xá là hướng về cội nguồn, ca ngợi công đức các vị thần, những người có công với dân với nước và cầu cho “Quốc thái dân an”, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong không khí xuân ấp áp, bà con nhân dân trong vùng và du khách thập phương đã nô nức về dự hội, thắp nén hương trầm hướng về nguồn cội, một lòng đóng góp công sức cùng Đào Xá bảo vệ, lưu giữ vốn cổ quý báu của quê hương để những di sản vật thể và phi vật thể đó sẽ mãi mãi trường tồn cùng thời gian.

Độc đáo lễ hội rước voi làng Đào Xá - Thanh Thủy - Phú Thọ.

Trong 47 lễ hội được tổ chức thường niên trên kinh đô Văn Lang xưa thì Lễ hội rước voi làng Đào Xá (Thanh Thủy) lại mang những nét văn hóa đặc sắc rất riêng.

Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm, không khí ấm áp, trong lành, cây cối đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa đua nở, muôn vật sinh sôi phát triển và mọi người mong sao cuộc sống có nhiều thay đổi tốt đẹp. Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội, con người lại tìm về cội nguồn, nhớ đến tổ tiên, nhắc nhở về lịch sử và truyền thống hào hùng của dân tộc qua những hình thức của lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian.

lễ hội rước voi ở Đào xá
lễ hội rước voi ở Đào xá

Làng Đào Xá là miền đất cổ, có nền văn hoá lâu đời cách đây khoảng 1.800 năm thuộc vùng đất Khuất Động Liêu, thuở khai sơ có tên là Làng Dâu, Làng Da, sau này đổi tên thành làng Đào Xá. Theo đó, đình và đền Đào Xá cũng đã có từ rất lâu đời. 

Đình Đào Xá thờ Hùng Hải Công để tỏ lòng tri ân công đức của vị thánh nhân đã có công giúp dân khai thiên lập địa. Tương truyền vào thời Hùng Vương dựng nước, Hùng Hải được anh là Vua Hùng cử đến cai quản vùng Tam Giang (nơi giáp 3 con sông: sông Đà, sông Hồng và sông Bứa) gồm địa phận Đào Xá, Hưng Hoá và Thọ Xuyên. Ngày 28 tháng Giêng năm ấy hai ông bà cùng đi thuyền du xuân từ Thọ Xuyên sang Đào Xá dựng lầu nghỉ ở đây một đêm, sống trong sự giao hòa của trời đất, sau về Trang Hoa thụ thai và sinh được 3 người con trai đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Các con vừa cất tiếng khóc chào đời thì Trang Hoa hoá thân. Hùng Hải ở lại dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản còn mình về trông nom miền sông Nhị (địa phận tỉnh Hải Dương ngày nay).

Đền Đào Xá còn có tên gọi là đền Tam Công thờ 3 vị Thuỷ thần con của Hùng Hải Công, đó là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bên cạnh đó, đền Đào Xá còn thờ bà Trang Hoa công chúa là vợ của Hùng Hải Công và thờ bà Quế Hoa - người hầu của Trang Hoa công chúa.

Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại. Trước khi chia tay về sông Nhị, ông đã dẫn đôi voi về làm lễ tạ 3 lần. Cuộc tiễn đưa Hùng Hải ra đi đầy quyến luyến và cảm động. Sau này với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” nhân dân Đào Xá đã tôn ông làm Thành Hoàng làng, lập đình thờ tại đây, hàng năm tổ chức tế lễ, mở hội rước voi truyền thống

Cứ mỗi độ xuân về, hội rước voi Đào Xá mở trong ba ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng âm lịch. Đây cũng là những nét đẹp văn hóa tâm linh, mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, với mỗi người dân địa phương, đây cũng là dịp dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, dựng làng, cầu phúc, cầu may, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, dân an, nước thịnh. Lễ hội gồm 2 phần, phần lễ và phần hội.

Phần lễ tiến hành rước voi, hương án, long báu, bài vị, hòm sắc và tế Thành Hoàng.

Lễ hội rước voi Đào Xá
Lễ hội rước voi Đào Xá

Phần hội tổ chức nhiều trò chơi dân gian như đánh vật, cướp gà, lấy nước, giã gạo, kéo lửa nấu cơm thi…

Toàn bộ lễ hội rước voi Đào Xá là hướng về cội nguồn, ca ngợi công đức các vị thần, những người có công với dân với nước và cầu cho “Quốc thái dân an”, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong không khí xuân ấp áp, bà con nhân dân trong vùng và du khách thập phương đã nô nức về dự hội, thắp nén hương trầm hướng về nguồn cội, một lòng đóng góp công sức cùng Đào Xá bảo vệ, lưu giữ vốn cổ quý báu của quê hương để những di sản vật thể và phi vật thể đó sẽ mãi mãi trường tồn cùng thời gian.
Đọc thêm..
Du lịch Phú Thọ có ba nơi có di tích lịch sử văn hóa về tâm linh rất nổi tiếng, đó là: Đền Hùng ở thành phố Việt Trì, đền Mẫu Âu Cơ ở huyện Hạ Hòa và Đền Lăng Sương ở huyện Thanh Thủy. Mùa xuân là mùa lễ hội. Mở đầu là lễ hội đền Mẫu Âu Cơ (mùng 7 tháng giếng), tiếp đó là lễ hội đền Lăng Sương (rằm tháng giêng) và kết thúc là lễ hội lớn nhất, quốc lễ giỗ Tổ Hùng Vương - lễ hội Đền Hùng 10 tháng ba âm lịch. 

Đền Lăng Sương được xây dựng tại thôn Lăng Sương, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, một xã miền núi nằm ở tả ngạn sông Đà, có địa hình bán sơn địa, đồi, gò, núi non bao bọc. Dòng sông Đà chảy qua tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình. Cách khoảng một cây số về phía đông nam hữu ngạn sông Đà là ngọn núi Ba Vì (núi Tản Viên) sừng sững uy nghiêm bốn mùa mây phủ tạo nên một vùng non nước chứa đầy huyền thoại.

Tuy nhiên, lễ hội đền Lăng Sương còn được ít người biết đến và sự quan tâm của các cấp tổ chức lễ hội. Trong khi đó, động Lăng Sương xưa (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy ngày nay) tương truyền là nơi sinh của bà Âu Cơ, là nơi Lạc Long Quân gặp Âu Cơ rồi nên vợ thành chồng. Bãi cát Cửa Đình trên sông Đà (bãi cát trường sa trung lộ kéo dài từ xã Tu Vũ đến xã Trung Nghĩa), ngày xưa là bãi dân chuyên trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi. Tương truyền, Lạc Long Quân đi tìm nơi đóng quân đã gặp nàng Âu Cơ xinh đẹp đang hái dâu ca hát trên bãi này. Như thiên định, trai tài, gái sắc gặp nhau nên vợ thành chồng. Họ về Việt Trì sinh sống và đẻ ra bọc trăm trứng. Có thể nói, cội nguồn của bọc trăm trứng nảy nở chính từ tình yêu Lạc Long Quân với Âu Cơ - người con gái đẹp của động Lăng Sương ngàn năm trước. 

Đặc biệt, Đền Lăng Sương nằm trong hệ thống các di tích thờ Tản Viên vùng ven sông Đà và vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ thờ Tản viên Sơn Thánh là một trong bốn vị thần "tứ bất tử" của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. Với lòng tôn kính, ngưỡng mộ, nhân dân đã suy tôn Tản Viên là vị thần "Thượng đẳng tối linh", "Đệ nhất phúc thần" đứng đầu "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng cổ truyền người Việt.

Đền Lăng Sương tự hào là mảnh đất đã sinh ra Thánh Tản. Đây có thể coi là mảnh đất "chôn nhau, cắt rốn" của vị thần linh tiêu biểu của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Cùng với tín ngưỡng thờ Đức thánh Tản, đền Lăng Sương còn thờ Thánh Mẫu - người có công sinh ra Thánh Tản. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây đã hòa cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu chung của người Việt như mẹ Âu Cơ, Đất Mẹ, Mẹ Nước... làm nên bản sắc của văn hóa tâm linh Việt Nam. Vì vậy, người Mẹ được thờ tự ở vị trí rất trang trọng ở đền Lăng Sương.

Khu di tích đền Lăng Sương
Khu di tích đền Lăng Sương

Trong dự án xây dựng khu di tích đền Lăng Sương có một hạng mục công trình đó là xây dựng tại bãi Cửa Đình này một biểu tượng Tình Yêu để tưởng nhớ đến mối tình đẹp đẽ thủy chung của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Biểu tượng này sẽ ngày đêm lung linh soi bóng nước sông Đà để cho thế hệ mai sau luôn nhớ về truyền thuyết "bọc trăm trứng" dòng dõi rồng tiên của dân tộc Việt. Cùng với đền Thánh Mẫu thờ Tản Viên và Mẫu của Ngài cùng bộ tướng là Cao Sơn và Quý Minh (đều là các nhân vật thời Hùng Vương) và nhiều công trình phụ trợ khác.

Hiện tại, Đền Lăng Sương có mặt bằng khá rộng, có kiến trúc mang nhiều đường nét cổ kính, thâm nghiêm. Theo các tư liệu còn lưu giữ tại Đền, đền Lăng Sương được xây từ thời Thục An Dương Vương. Đến đời Lê được trùng tu. Năm Thiệu Trị thứ 7 thời Nguyễn (1847) ngôi đền được tu sửa lớn. Năm Tự Đức nguyên niên (1848) khắc bia đá lưu truyền cho hậu thế. Trải qua mưa nắng và giặc giã, ngôi đến bị hư hỏng nhiều. Năm 1991, chính quyền và nhân dân địa phương đã tôn tạo đền Lăng Sương trên khu đất rộng với diện tích 3.000 mét vuông, bao gồm các công trình: cổng đền, miếu Hai Cô, giếng Thiên Thanh, nhà bia, nhà võng, tả mạc, hữu mạc và lăng thánh Mẫu.

Cổng đền có đôi câu đối "Thiên giáng thánh nhân bình bắc địch/ Địa lưu thần tích hiển Nam bang" (tạm dịch: Trời sinh tháng dẹp giặc phương Bắc/ Đất lưu thần tích hiến Thánh trời Nam). Và "Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần/ Bả thác long linh giáng hạ trần" (tạm dịch nghĩa: Lăng Sương ngọc sáng, ngọc tinh thần/ Máng dấu rồng thiếng xuống hạ trần). Qua cổng Đền là miếu Hai Cô (còn gọi là miếu Nhà Bà) thờ Bạch tinh thần nữ là thần giữ đất cùng hai người hầu là Đào Hoa và Quế Hoa. Sau miếu, về phía tây là giếng Thiên Thanh quanh năm có nước, trong vắt, nhìn thấy tận đáy. Tương truyền là nơi rồng vàng xuống phun châu nhả ngọc, thánh Mẫu ra giếng gánh nước về ngồi trên phiến đá tắm gội. Sau đó bà có mang 14 tháng và sinh ra Tản Viên. Khi Thánh Mẫu chuyển dạ, trong cơn đau vật vã, bà quỳ chân, chống tay xuống phiến đá. Đó là truyền thuyết. Thế nhưng, năm 2003, ông Hoàng Dân Mạc, Chủ tịch UBND huyện lúc đó (nay đã là Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ) khi phát động Tết trồng cây tại khu đền đã đào thấy hòn đá này. Mọi người đổ xô đến xem thì đúng là dấu đầu gối và năm ngón tay hằn lên phiến đá đến nay vẫn còn. Phải chăng là quá khứ đã hiện về và phù hộ cho dân làng trong việc trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ và sự nghiệp xây dựng quê hương? Vì thế nhân dân địa phương gọi đó là hòn Đá Quỳ và đặt hòn đá ngay bên tang giếng Thiên Thanh. Cạnh giếng Thiên Thanh là nhà bia được xây theo kiểu kiến trúc nhà 4 mái, trong đặt tấm bia khắc năm Tự Đức nguyên niên (1848) ghi công đức của những người có công tu sửa lại đền. Trước sân đền chính là nhà võng. Tương truyền là nơi Tản viên lúc còn nhỏ thường nằm võng. Trong nhà có một chiếc võng phủ vải đỏ, gọi là võng đào. Đặc biệt có 8 cột đá cao 2,1 m được xây vào thời Lê. Ở giữa nhà võng đặt một chậu bằng đá xanh hình vuông, tương truyền là chậu đá để Tản Viên tắm khi còn nhỏ. Trên chậu đá có đặt một bòn đá tương truyền khi Thánh Mẫu sinh Tản Viên xong đã dùng để chèn bụng.

Đền Lăng Sương
Đền Lăng Sương

Đền chính có kiến trúc kiểu chức công (I) gồm 3 gian đại bái, ống muốn và 3 gian hậu cung. Trong tòa đại bái có xây bệ thờ tượng Cao Sơn và Quý Minh là bộ tướng có công giúp Tản Viên dẹp giặc Thục. Tòa hậu cung bài trí long ngai thờ Thánh Mẫu Đinh Thị Đen (mẹ của Tản Viên) và thờ đức Thánh Tản. Trong tòa hậu cung còn thờ Thánh phụ Tản viên là ông Cao Hành, bà dưỡng mẫu (mẹ nuôi) là Ma Thị và công chúa Ngọc Hoa (vợ Tản Viên). Cách khu đến Lăng Sương khoảng 50 mét về phía đông bắc, tương truyền có ngôi mộ của Thánh Mẫu nay ở đó đã được xây thành lăng tẩm.

Lăng thánh mẫu
Lăng thánh mẫu

Hàng năm đền Lăng Sương mở lễ hội cổ truyền vào 25 tháng 10 âm lịch (là ngày giỗ Mẫu sinh ra Thánh Tản) và rằm tháng giêng - giỗ chính (là ngày sinh Thánh Tản). Về ngày giỗ Thánh Mẫu có liên quan đến sự tích gò Đống Bò cách đền chính hơn năm trăm mét có một gò đất nổi lên giữa cánh đồng Đầm Đành. Tương truyền hàng năm cứ đến ngày 24 tháng 10 là có một con bò không biết ở đâu tự nhiên về gò đó và nhân dân bắt mổ để tế lễ làm giỗ Đức Thánh Mẫu vào ngày 25 tháng mười hôm sau. Còn ngày giỗ chính của đức Thánh Tản thì làng xóm rậm rịch mở hội từ những ngày trong Tết. Nhà nhà, dòng họ, các giáp chuẩn bị cỗ bàn, quần áo, mũ mão cùng nhiều vật dụng cho ngày lễ hội. Sáng 15 tháng giêng, các giáp rước cỗ ra đền và tập trung thành đoàn rước của xã kéo quân từ Đền ra sông Đà với mục đích là lấy nước sông Đà về làm lễ và đón mẹ nuôi của Thánh Tản bên Ba Vì về dự tiệc sinh Thánh. Tục lấy nước cũng thể hiện sự tôn thờ thần nước của cư dân lúa nước của người Việt xa xưa.

Hội đền Lăng Sương
Hội đền Lăng Sương

Trong lễ hội đền Lăng Sương rằm tháng giêng hàng năm, đoàn rước có 100 thanh niên trai tráng rước 3 kiệu (kiệu rước hoa quả, kiệu rước nước, kiệu rước lư hương), 8 người khiêng một kiệu (bát cống), có phường bát âm, múa lân tưng bừng rộn rã. Dân làng hòa vào đoàn rước kín chật đoạn đường gần cây số từ đền ra sông. Khi về đến Đền, sau lễ tế chính, 8 dòng họ trong xã lần lượt vào tế. Cuối cùng là du khách thập phương vào thắp hương bái lễ cầu cho một năm mới an lành, phát đạt. Đội rước tế Lăng Sương đã đạt giải nhất cuộc thi rước tế tỉnh nhân dịp kỷ niệm 115 năm thành lập tỉnh Phú Thọ..

Xem thêm: >>> Độc đáo lễ hội rước voi làng Đào Xá - Thanh Thủy

Lễ hội đền Lăng Sương là một trong những lễ hội lớn của vùng núi Tản sông Đà và những di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh. Lễ hội là sự kết hợp giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể hiện còn được bảo tồn trên quê hương Đất Tổ. Cùng với các di sản văn hóa khác, vùng đất Lăng Sương là mảnh đất chứa đầy huyền thoại, truyền thuyết với các tục hèm như thả diều, tục kiêng gọi tên húy...

Với những giá trị lịch sử và văn hóa tâm linh sâu sắc, đền Lăng Sương đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT ngày 12/7/2005 xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Di tích đền Lăng Sương đã được lập quy hoạch tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của các di sản văn hóa. Xây dựng Lăng Sương thành một điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh phục vụ du khách thập phương và phát triển kinh tế dịch vụ du lịch là hướng đi đúng của huyện Thanh Thủy và điểm đến của du khách thập phương. 

Mùa xuân đã về. Hội đền Lăng Sương sắp mở. Thanh Thủy đang mở rộng cánh cửa xuân đón chào du khách. Xin mời bạn hãy đến với Thanh Thủy để du xuân thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình, trải lòng với những người dân thân thiện, hiếu khách nơi đây và để tìm hiểu thêm nhiều hơn nữa những truyền thuyết, huyền thoại như thực như mơ, để hiểu thêm về cội nguồn tổ tiên dân tộc và cầu cho một năm mới thịnh vượng, an khang, phát tài, phát lộc.

Du lịch Phú Thọ nhớ hội đền Lăng Sương - Thanh Thủy

Du lịch Phú Thọ có ba nơi có di tích lịch sử văn hóa về tâm linh rất nổi tiếng, đó là: Đền Hùng ở thành phố Việt Trì, đền Mẫu Âu Cơ ở huyện Hạ Hòa và Đền Lăng Sương ở huyện Thanh Thủy. Mùa xuân là mùa lễ hội. Mở đầu là lễ hội đền Mẫu Âu Cơ (mùng 7 tháng giếng), tiếp đó là lễ hội đền Lăng Sương (rằm tháng giêng) và kết thúc là lễ hội lớn nhất, quốc lễ giỗ Tổ Hùng Vương - lễ hội Đền Hùng 10 tháng ba âm lịch. 

Đền Lăng Sương được xây dựng tại thôn Lăng Sương, xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, một xã miền núi nằm ở tả ngạn sông Đà, có địa hình bán sơn địa, đồi, gò, núi non bao bọc. Dòng sông Đà chảy qua tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình. Cách khoảng một cây số về phía đông nam hữu ngạn sông Đà là ngọn núi Ba Vì (núi Tản Viên) sừng sững uy nghiêm bốn mùa mây phủ tạo nên một vùng non nước chứa đầy huyền thoại.

Tuy nhiên, lễ hội đền Lăng Sương còn được ít người biết đến và sự quan tâm của các cấp tổ chức lễ hội. Trong khi đó, động Lăng Sương xưa (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy ngày nay) tương truyền là nơi sinh của bà Âu Cơ, là nơi Lạc Long Quân gặp Âu Cơ rồi nên vợ thành chồng. Bãi cát Cửa Đình trên sông Đà (bãi cát trường sa trung lộ kéo dài từ xã Tu Vũ đến xã Trung Nghĩa), ngày xưa là bãi dân chuyên trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi. Tương truyền, Lạc Long Quân đi tìm nơi đóng quân đã gặp nàng Âu Cơ xinh đẹp đang hái dâu ca hát trên bãi này. Như thiên định, trai tài, gái sắc gặp nhau nên vợ thành chồng. Họ về Việt Trì sinh sống và đẻ ra bọc trăm trứng. Có thể nói, cội nguồn của bọc trăm trứng nảy nở chính từ tình yêu Lạc Long Quân với Âu Cơ - người con gái đẹp của động Lăng Sương ngàn năm trước. 

Đặc biệt, Đền Lăng Sương nằm trong hệ thống các di tích thờ Tản Viên vùng ven sông Đà và vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ thờ Tản viên Sơn Thánh là một trong bốn vị thần "tứ bất tử" của tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. Với lòng tôn kính, ngưỡng mộ, nhân dân đã suy tôn Tản Viên là vị thần "Thượng đẳng tối linh", "Đệ nhất phúc thần" đứng đầu "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng cổ truyền người Việt.

Đền Lăng Sương tự hào là mảnh đất đã sinh ra Thánh Tản. Đây có thể coi là mảnh đất "chôn nhau, cắt rốn" của vị thần linh tiêu biểu của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Cùng với tín ngưỡng thờ Đức thánh Tản, đền Lăng Sương còn thờ Thánh Mẫu - người có công sinh ra Thánh Tản. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây đã hòa cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu chung của người Việt như mẹ Âu Cơ, Đất Mẹ, Mẹ Nước... làm nên bản sắc của văn hóa tâm linh Việt Nam. Vì vậy, người Mẹ được thờ tự ở vị trí rất trang trọng ở đền Lăng Sương.

Khu di tích đền Lăng Sương
Khu di tích đền Lăng Sương

Trong dự án xây dựng khu di tích đền Lăng Sương có một hạng mục công trình đó là xây dựng tại bãi Cửa Đình này một biểu tượng Tình Yêu để tưởng nhớ đến mối tình đẹp đẽ thủy chung của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Biểu tượng này sẽ ngày đêm lung linh soi bóng nước sông Đà để cho thế hệ mai sau luôn nhớ về truyền thuyết "bọc trăm trứng" dòng dõi rồng tiên của dân tộc Việt. Cùng với đền Thánh Mẫu thờ Tản Viên và Mẫu của Ngài cùng bộ tướng là Cao Sơn và Quý Minh (đều là các nhân vật thời Hùng Vương) và nhiều công trình phụ trợ khác.

Hiện tại, Đền Lăng Sương có mặt bằng khá rộng, có kiến trúc mang nhiều đường nét cổ kính, thâm nghiêm. Theo các tư liệu còn lưu giữ tại Đền, đền Lăng Sương được xây từ thời Thục An Dương Vương. Đến đời Lê được trùng tu. Năm Thiệu Trị thứ 7 thời Nguyễn (1847) ngôi đền được tu sửa lớn. Năm Tự Đức nguyên niên (1848) khắc bia đá lưu truyền cho hậu thế. Trải qua mưa nắng và giặc giã, ngôi đến bị hư hỏng nhiều. Năm 1991, chính quyền và nhân dân địa phương đã tôn tạo đền Lăng Sương trên khu đất rộng với diện tích 3.000 mét vuông, bao gồm các công trình: cổng đền, miếu Hai Cô, giếng Thiên Thanh, nhà bia, nhà võng, tả mạc, hữu mạc và lăng thánh Mẫu.

Cổng đền có đôi câu đối "Thiên giáng thánh nhân bình bắc địch/ Địa lưu thần tích hiển Nam bang" (tạm dịch: Trời sinh tháng dẹp giặc phương Bắc/ Đất lưu thần tích hiến Thánh trời Nam). Và "Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần/ Bả thác long linh giáng hạ trần" (tạm dịch nghĩa: Lăng Sương ngọc sáng, ngọc tinh thần/ Máng dấu rồng thiếng xuống hạ trần). Qua cổng Đền là miếu Hai Cô (còn gọi là miếu Nhà Bà) thờ Bạch tinh thần nữ là thần giữ đất cùng hai người hầu là Đào Hoa và Quế Hoa. Sau miếu, về phía tây là giếng Thiên Thanh quanh năm có nước, trong vắt, nhìn thấy tận đáy. Tương truyền là nơi rồng vàng xuống phun châu nhả ngọc, thánh Mẫu ra giếng gánh nước về ngồi trên phiến đá tắm gội. Sau đó bà có mang 14 tháng và sinh ra Tản Viên. Khi Thánh Mẫu chuyển dạ, trong cơn đau vật vã, bà quỳ chân, chống tay xuống phiến đá. Đó là truyền thuyết. Thế nhưng, năm 2003, ông Hoàng Dân Mạc, Chủ tịch UBND huyện lúc đó (nay đã là Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ) khi phát động Tết trồng cây tại khu đền đã đào thấy hòn đá này. Mọi người đổ xô đến xem thì đúng là dấu đầu gối và năm ngón tay hằn lên phiến đá đến nay vẫn còn. Phải chăng là quá khứ đã hiện về và phù hộ cho dân làng trong việc trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ và sự nghiệp xây dựng quê hương? Vì thế nhân dân địa phương gọi đó là hòn Đá Quỳ và đặt hòn đá ngay bên tang giếng Thiên Thanh. Cạnh giếng Thiên Thanh là nhà bia được xây theo kiểu kiến trúc nhà 4 mái, trong đặt tấm bia khắc năm Tự Đức nguyên niên (1848) ghi công đức của những người có công tu sửa lại đền. Trước sân đền chính là nhà võng. Tương truyền là nơi Tản viên lúc còn nhỏ thường nằm võng. Trong nhà có một chiếc võng phủ vải đỏ, gọi là võng đào. Đặc biệt có 8 cột đá cao 2,1 m được xây vào thời Lê. Ở giữa nhà võng đặt một chậu bằng đá xanh hình vuông, tương truyền là chậu đá để Tản Viên tắm khi còn nhỏ. Trên chậu đá có đặt một bòn đá tương truyền khi Thánh Mẫu sinh Tản Viên xong đã dùng để chèn bụng.

Đền Lăng Sương
Đền Lăng Sương

Đền chính có kiến trúc kiểu chức công (I) gồm 3 gian đại bái, ống muốn và 3 gian hậu cung. Trong tòa đại bái có xây bệ thờ tượng Cao Sơn và Quý Minh là bộ tướng có công giúp Tản Viên dẹp giặc Thục. Tòa hậu cung bài trí long ngai thờ Thánh Mẫu Đinh Thị Đen (mẹ của Tản Viên) và thờ đức Thánh Tản. Trong tòa hậu cung còn thờ Thánh phụ Tản viên là ông Cao Hành, bà dưỡng mẫu (mẹ nuôi) là Ma Thị và công chúa Ngọc Hoa (vợ Tản Viên). Cách khu đến Lăng Sương khoảng 50 mét về phía đông bắc, tương truyền có ngôi mộ của Thánh Mẫu nay ở đó đã được xây thành lăng tẩm.

Lăng thánh mẫu
Lăng thánh mẫu

Hàng năm đền Lăng Sương mở lễ hội cổ truyền vào 25 tháng 10 âm lịch (là ngày giỗ Mẫu sinh ra Thánh Tản) và rằm tháng giêng - giỗ chính (là ngày sinh Thánh Tản). Về ngày giỗ Thánh Mẫu có liên quan đến sự tích gò Đống Bò cách đền chính hơn năm trăm mét có một gò đất nổi lên giữa cánh đồng Đầm Đành. Tương truyền hàng năm cứ đến ngày 24 tháng 10 là có một con bò không biết ở đâu tự nhiên về gò đó và nhân dân bắt mổ để tế lễ làm giỗ Đức Thánh Mẫu vào ngày 25 tháng mười hôm sau. Còn ngày giỗ chính của đức Thánh Tản thì làng xóm rậm rịch mở hội từ những ngày trong Tết. Nhà nhà, dòng họ, các giáp chuẩn bị cỗ bàn, quần áo, mũ mão cùng nhiều vật dụng cho ngày lễ hội. Sáng 15 tháng giêng, các giáp rước cỗ ra đền và tập trung thành đoàn rước của xã kéo quân từ Đền ra sông Đà với mục đích là lấy nước sông Đà về làm lễ và đón mẹ nuôi của Thánh Tản bên Ba Vì về dự tiệc sinh Thánh. Tục lấy nước cũng thể hiện sự tôn thờ thần nước của cư dân lúa nước của người Việt xa xưa.

Hội đền Lăng Sương
Hội đền Lăng Sương

Trong lễ hội đền Lăng Sương rằm tháng giêng hàng năm, đoàn rước có 100 thanh niên trai tráng rước 3 kiệu (kiệu rước hoa quả, kiệu rước nước, kiệu rước lư hương), 8 người khiêng một kiệu (bát cống), có phường bát âm, múa lân tưng bừng rộn rã. Dân làng hòa vào đoàn rước kín chật đoạn đường gần cây số từ đền ra sông. Khi về đến Đền, sau lễ tế chính, 8 dòng họ trong xã lần lượt vào tế. Cuối cùng là du khách thập phương vào thắp hương bái lễ cầu cho một năm mới an lành, phát đạt. Đội rước tế Lăng Sương đã đạt giải nhất cuộc thi rước tế tỉnh nhân dịp kỷ niệm 115 năm thành lập tỉnh Phú Thọ..

Xem thêm: >>> Độc đáo lễ hội rước voi làng Đào Xá - Thanh Thủy

Lễ hội đền Lăng Sương là một trong những lễ hội lớn của vùng núi Tản sông Đà và những di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh. Lễ hội là sự kết hợp giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể hiện còn được bảo tồn trên quê hương Đất Tổ. Cùng với các di sản văn hóa khác, vùng đất Lăng Sương là mảnh đất chứa đầy huyền thoại, truyền thuyết với các tục hèm như thả diều, tục kiêng gọi tên húy...

Với những giá trị lịch sử và văn hóa tâm linh sâu sắc, đền Lăng Sương đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số 25/2005/QĐ-BVHTT ngày 12/7/2005 xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Di tích đền Lăng Sương đã được lập quy hoạch tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của các di sản văn hóa. Xây dựng Lăng Sương thành một điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh phục vụ du khách thập phương và phát triển kinh tế dịch vụ du lịch là hướng đi đúng của huyện Thanh Thủy và điểm đến của du khách thập phương. 

Mùa xuân đã về. Hội đền Lăng Sương sắp mở. Thanh Thủy đang mở rộng cánh cửa xuân đón chào du khách. Xin mời bạn hãy đến với Thanh Thủy để du xuân thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình, trải lòng với những người dân thân thiện, hiếu khách nơi đây và để tìm hiểu thêm nhiều hơn nữa những truyền thuyết, huyền thoại như thực như mơ, để hiểu thêm về cội nguồn tổ tiên dân tộc và cầu cho một năm mới thịnh vượng, an khang, phát tài, phát lộc.
Đọc thêm..
Đầu xuân, tiết trời se lạnh, sương núi giăng giăng bao phủ núi rừng Thu Cúc (Tân Sơn) trong tấm màn hơi nước bàng bạc. Không khí lễ hội Phú Thọ đã rạng ngời trên nét mặt của đồng bào các dân tộc nô nức đổ về khu trung tâm xã tham dự ngày tết Doi truyền thống vào mùng 7 tháng giêng lần đầu tiên được UBND huyện phục dựng lại lễ gọi vía lúa lồng ghép với ngày hội văn hóa các dân tộc xã Thu Cúc…

Bao đời nay, người Mường Thu Cúc vẫn sống dựa chủ yếu vào nghề trồng lúa. Cây lúa là cây lương thực chính nuôi sống người Mường, là hoạt động kinh tế chủ yếu nên được bà con đặc biệt coi trọng, tôn sùng và "vía" hóa (thân thánh hóa). Đây chính là cơ sở để hình thành nên tín ngưỡng thờ vía lúa cũng như hệ thống những nghi lễ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Muốn mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ, dân bản phải tổ chức “rước vía lúa”.

tet-doi-le-hoi-phu-tho
Tết Doi - lễ hội Phú Thọ đặc sắc của người Mường

Theo truyền thuyết, thời xưa ở mường Cúc có người con gái nhà Ngài thông minh, nhanh nhẹn, giỏi nghề nông, xinh đẹp nức tiếng cả vùng. Năm đó, hạn hán kéo dài, đồng ruộng khô cạn. Cây lúa héo rũ trên ruộng đồng nứt nẻ. Dân bản chìm trong thiếu đói. Thương bà con, cô gái đã tình nguyện lên đường tìm giống lúa, vía lúa. Vượt qua bao khó khăn, nguy hiểm, cô đã tìm được giống lúa, gọi mời được vía lúa từ mường Cang Ó, Cun U Lang Theng về đến cửa Mường thì bị hãm hại chỉ còn lại đôi dép và bó lúa quý hiếm. Từ bó lúa giống đó, ruộng đồng của người mường Cúc lại xanh tươi, sai bông trĩu hạt. Ghi nhớ công ơn của cô gái, dân làng đã lập miếu thờ và gọi cô là Nàng Cúc. Trong các lễ rước vía lúa, dân bản và thầy mo vẫn đến miếu Nàng Cúc xin vía lúa về chia cho các chòm xóm lấy khước cầu may.

Rước vía lúa là lễ hội truyền thống thể hiện khát vọng của người Mường Thu Cúc về một vụ mùa bội thu, cuộc sống thanh bình sung túc. Mùa lễ hội Phú Thọ trên bản Mường được huyện Tân Sơn khôi phục tổ chức rước vía lúa quy mô vào đúng dịp tết Doi truyền thống gắn với Ngày hội văn hóa các dân tộc xã Thu Cúc với nhiều hoạt động lễ hội văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao mừng Đảng mừng xuân đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đông đảo người dân quanh vùng.


Sáng sớm, đoàn rước do thầy mo dẫn đầu với chiêng, trống, tiếng chàm đuống rộn rã mang theo lễ vật tiến về miếu thờ nơi Cửa Mường xin vía lúa với sự tham gia của hàng nghìn người dân và du khách du lịch lễ hội Phú Thọ. Vía lúa được xin về, qua địa phận xóm nào bà con cũng lập bàn thờ, chàm đuống, diễn xướng dân gian rộn ràng ven đường chào mừng vía lúa về mường. Bó lúa giống mang vía thiêng được đưa về khu trung tâm làm lễ với các lễ vật là sản phẩm của nhà nông: Bánh nếp, thịt trâu, xôi… rồi chia cho từng khu dân cư lấy may.

Người Mường Thu Cúc có tết Doi - lễ hội truyền thống tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng, sau tết này mọi người sẽ tập trung xuống đồng lao động sản xuất. Như vậy, bên cạnh niềm tin vào vía lúa, từ xưa, bà con nơi đây đã đặc biệt coi trọng tính chuyên cần, kỹ thuật, thời vụ trong sản xuất nông nghiệp để có được một mùa vụ thắng lợi. Giữa trưa, trời hửng nắng. Vía lúa thiêng đã về từng xóm bản trong tiếng đuống rộn ràng, lời ca mượt mà chào đón mang theo hi vọng một vụ mùa bội thu lại về với người dân mường Cúc.

Tết Doi của người Mường - Lễ hội Phú Thọ đặc sắc

Đầu xuân, tiết trời se lạnh, sương núi giăng giăng bao phủ núi rừng Thu Cúc (Tân Sơn) trong tấm màn hơi nước bàng bạc. Không khí lễ hội Phú Thọ đã rạng ngời trên nét mặt của đồng bào các dân tộc nô nức đổ về khu trung tâm xã tham dự ngày tết Doi truyền thống vào mùng 7 tháng giêng lần đầu tiên được UBND huyện phục dựng lại lễ gọi vía lúa lồng ghép với ngày hội văn hóa các dân tộc xã Thu Cúc…

Bao đời nay, người Mường Thu Cúc vẫn sống dựa chủ yếu vào nghề trồng lúa. Cây lúa là cây lương thực chính nuôi sống người Mường, là hoạt động kinh tế chủ yếu nên được bà con đặc biệt coi trọng, tôn sùng và "vía" hóa (thân thánh hóa). Đây chính là cơ sở để hình thành nên tín ngưỡng thờ vía lúa cũng như hệ thống những nghi lễ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Muốn mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ, dân bản phải tổ chức “rước vía lúa”.

tet-doi-le-hoi-phu-tho
Tết Doi - lễ hội Phú Thọ đặc sắc của người Mường

Theo truyền thuyết, thời xưa ở mường Cúc có người con gái nhà Ngài thông minh, nhanh nhẹn, giỏi nghề nông, xinh đẹp nức tiếng cả vùng. Năm đó, hạn hán kéo dài, đồng ruộng khô cạn. Cây lúa héo rũ trên ruộng đồng nứt nẻ. Dân bản chìm trong thiếu đói. Thương bà con, cô gái đã tình nguyện lên đường tìm giống lúa, vía lúa. Vượt qua bao khó khăn, nguy hiểm, cô đã tìm được giống lúa, gọi mời được vía lúa từ mường Cang Ó, Cun U Lang Theng về đến cửa Mường thì bị hãm hại chỉ còn lại đôi dép và bó lúa quý hiếm. Từ bó lúa giống đó, ruộng đồng của người mường Cúc lại xanh tươi, sai bông trĩu hạt. Ghi nhớ công ơn của cô gái, dân làng đã lập miếu thờ và gọi cô là Nàng Cúc. Trong các lễ rước vía lúa, dân bản và thầy mo vẫn đến miếu Nàng Cúc xin vía lúa về chia cho các chòm xóm lấy khước cầu may.

Rước vía lúa là lễ hội truyền thống thể hiện khát vọng của người Mường Thu Cúc về một vụ mùa bội thu, cuộc sống thanh bình sung túc. Mùa lễ hội Phú Thọ trên bản Mường được huyện Tân Sơn khôi phục tổ chức rước vía lúa quy mô vào đúng dịp tết Doi truyền thống gắn với Ngày hội văn hóa các dân tộc xã Thu Cúc với nhiều hoạt động lễ hội văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao mừng Đảng mừng xuân đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đông đảo người dân quanh vùng.


Sáng sớm, đoàn rước do thầy mo dẫn đầu với chiêng, trống, tiếng chàm đuống rộn rã mang theo lễ vật tiến về miếu thờ nơi Cửa Mường xin vía lúa với sự tham gia của hàng nghìn người dân và du khách du lịch lễ hội Phú Thọ. Vía lúa được xin về, qua địa phận xóm nào bà con cũng lập bàn thờ, chàm đuống, diễn xướng dân gian rộn ràng ven đường chào mừng vía lúa về mường. Bó lúa giống mang vía thiêng được đưa về khu trung tâm làm lễ với các lễ vật là sản phẩm của nhà nông: Bánh nếp, thịt trâu, xôi… rồi chia cho từng khu dân cư lấy may.

Người Mường Thu Cúc có tết Doi - lễ hội truyền thống tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng, sau tết này mọi người sẽ tập trung xuống đồng lao động sản xuất. Như vậy, bên cạnh niềm tin vào vía lúa, từ xưa, bà con nơi đây đã đặc biệt coi trọng tính chuyên cần, kỹ thuật, thời vụ trong sản xuất nông nghiệp để có được một mùa vụ thắng lợi. Giữa trưa, trời hửng nắng. Vía lúa thiêng đã về từng xóm bản trong tiếng đuống rộn ràng, lời ca mượt mà chào đón mang theo hi vọng một vụ mùa bội thu lại về với người dân mường Cúc.
Đọc thêm..