Lễ hội Phú Thọ

Lễ hội dân gian hay "hội làng", "hội làng quê" là biểu hiện tổng hợp và tập trung cao nhất của văn hóa làng xã, văn hóa công xã nông nghiệp. Lễ hội thu hút không chỉ những thành phần tín ngưỡng, tôn giáo, những trò vui chơi hội đám mà còn là toàn bộ sinh hoạt nông thôn với phong tục, tập quán cho tới các nghề nghiệp truyền thống. Có thể nói đến với lễ hội làng quê là đến với văn hóa làng xã và để tìm hiểu về nông thôn, về những giá trị tinh thần cho tới những đáy sâu tiềm ẩn tâm linh của nhân dân công xã không thể không tìm đến các lễ hội.

Lễ hội dân gian của Phú Thọ - đất Tổ Hùng Vương chính là cơ sở bảo tồn văn hóa làng xã và di sản văn hóa dân tộc. Lễ hội Phú Thọ mang những yếu tố hình thức phổ biến của lễ hội người Việt nói chung nhưng cũng có những biểu hiện địa phương mang tính đặc thù của một vùng trung du là điểm khởi hành của lịch sử dân tộc.


Đến với lễ hội Đền Hùng, với các lễ hội trung du đất Tổ chính là hành hương về với cội nguồn văn hóa dân tộc. Phú Thọ đã là đất phát tích của dân tộc, "từ cố sơn hà qụy bản tịch", đương nhiên Phú Thọ cũng là cội nguồn của văn hóa dân tộc. 

Tín ngưỡng phồn thực và tục thời lễ sinh thực khí là hình thái tín ngưỡng cổ xưa ở tầng sâu nguyên thủy của văn hóa dân tộc. Mảnh đất trung du cội nguồn đã cho thấy những phương thức biểu hiện khác nhau của loại hình tín ngưỡng này. Trước hết là hình thức tính giao nam nữ thực sự trong nghi lễ săn bắt được thấy ở các xã Phú Lộc, Hà Thạch, Phú Hộ. Tính giao nam nữ trong nghi lễ còn có những hình thức tượng trưng như tắt đèn trong buổi lễ, nam nữ được tự do đùa nghịch nhau trong khoảng mười phút được gọi là "hội ôm" (các xã Chế Nhuệ, Phú Lạc, An Đạo, Phù Đức, Kinh Kệ, Y Kỳ, Thanh Uyên, Dữu Lâu…) cạnh đó là hình thức "tháo khoán" như ở Tứ Xã, trai gái tự do đùa nghịch bên miếu khi đang có hành lễ. Tính giao nam nữ được cách điệu hóa, nghệ thuật hóa như múa Tùng Dí ở Chu Hóa.

Lễ hội Phú Thọ
Lễ hội Phú Thọ

Thời lễ sinh thực ký hay thời lễ nõ nường cũng là hình thức tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp được thấy khá phổ biến ở Phú Thọ mà "nõ" là biểu tượng dương tính tạo tác bằng gỗ, thường là gỗ xoay hay công và "nường" là biểu tượng âm tính thường làm bằng mo cau vẽ vôi và mực tàu cho "y như thật", nhân dân thường gọi là "cua mua cò gỗ", cả một cặp gọi là "kén". Thờ lễ nõ nường là nghi lễ thiêng liêng của công xã được gọi là "lễ mạt" cử hành trong miếu vào nửa đêm, chỉ có chủ tế, ông từ và một hay vài cặp trai gái hành lễ. Trai cầm nõ và gái cầm nường đứng hai bàn tờ, chủ tế điều khiển cho trai gái chọc nõ nường vào nhau và hát "cái sự làm sao? - cái sự làm vầy! - cái sự thế nào? - cái sự thế này!", cũng có nơi chỉ có chủ tế là ông từ thực hiện mà không có trai gái tham gia. 

Có nơi người ta rước nõ nường đi khắp làng như Hương Nha, Khúc Lạc, có nơi làm lễ ở đình (không thực hành lễ mật) rồi tung các bộ kén cho dân cướp như Dị Nậu, Danh Hựu. 

Thờ lễ nõ nường có thể coi là một biểu hiện của tục thờ lễ Linga-yoni phổ biến ở Nam Á và Đông Nam Á mà nguồn gốc có thể là Ấn Độ qua Campuchia vào Việt Nam, dấu tích Linga-yoni đậm nét nhất là ở vùng Chăm. Ở Campuchia, tại tỉnh Prasát Thom cách Angkor 60 dặm về phía đông bắc có lin ga- lớn của vương quốc và ở Phnom Kulên có Linga thiêng của quốc gia. Gần dây đã phát hiện ở Quang Nam một bộ Linga-yoni bằng đá cao 1,6m, nặng 5 tấn, lớn nhất của vùng Chăm. Người Việt cũng có những biểu hiện thời lễ Linga-yoni trong các lễ hội, những cây nêu âm - dương trồng trong dịp lễ hội, những "cây bông" vót bằng tre từng đoạn có xơ nhuộm màu xòa ra, được các cô thả tơ hay thanh đồng múa rồi tung cho dân cướp hay như xã Thanh Đình có nghi lễ đâm chiếc bánh trưng tày xuống một lõm đá, biểu hiện tính giao qua Linga-yoni.

Một biểu hiện đặc thù khác của văn hóa lễ hội dân gian Phú Thọ là những tiếng hú, những hình thức nghi lễ có tiếng hú. Tiếng hú gợi lên một cái gì hoang dã cổ sơ là một nét sinh hoạt đặc trưng vùng trung du đồi, núi và rừng. Người đi rừng hú để gọi nhau, trai gái hú để tìm nhau để tỏ tình, người lên nương, người ở làng đồi đều hút để gọi nhau. Từ cuộc đời, hú đi vào nghi lễ.

Xem thêm >>> Lễ hội ở Phú Thọ

Các thôn Vi Cương và Triệu Phú (xưa là 2 xã, nay Vi Cương về Hi Cương và Triệu Phú về Chu Hóa) cùng thờ lễ chung một ngôi đình có tục "rước tiếng hú" từ miếu thờ Ngọc Hoa vợ Sơn Tinh, hú từ miếu về đình rồi lại hú từ đình về đến các nhà. Có lẽ tục này có ý nghĩa rước đón điều may vận đỏ nhưng nhân dân quan niệm đây là tiếng hú của Ngọc Hoa hú để gọi chồng và như vậy tiếng hú trai gái gọi nhau, tỏ tình đã được thần thoại hóa đưa vào lễ tục.

Trò múa săn các xã Phú Lạc và Hà Thạch, trai gái vừa múa vừa hú trước khi tính giao nam nữ, đây rõ ràng là hú gọi tình. Múa mo xã Nam Cương, ông chúa mo vừa múa vừa hát những lời chúc tụng, sau mỗi câu hát lại hú và trai gái hai bên cùng hú theo, đây là nghi lễ hú gọi là lúa cũng được thấy ở vùng Mường Thanh Sơn. Xã Chu Hóa trong trò diễn múa tùng dí, trai gái vừa múa vừa cất tiếng hú và người xem cũng hú theo. Cũng Chu Hóa, vào hội đánh cá thờ ở đầm Doi vào tháng 10, mọi người ào xuống đồng hò hét và hú: "Hú, hú, huê". Xã Tứ Xã, trong đám rước người cầm trống hiệu điều khiển rước kiệu thỉnh thoảng lại cất tiếng hú, một số xã khác ở Phong Châu như Phùng Nguyên, Thạch Sơn xưa cũng vừa đi vừa hú như vậy. Xã Thanh Đình, ở trò rước "ông Khưu bà Khưu" khi đám rước trở về đình, các vai ông Khưu bà Khưu và ông chủ tế lên sàn ở sân đình có bày ngô, lúa, đỗ… và bánh dày, mọi người chạy quanh sàn từ trái sang phải cùng hú rồi chủ tế tung lúa ngô, bánh cho mọi người cướp.

Đất Tổ Phú Thọ còn bảo lưu được nhiều lễ hội dân gian cổ xưa của cư dân nông nghiệp như rước lúa thần, rước các hình mã gia súc, rước nông cụ, lễ gọi lúa, lễ cầu nước… có thể nói Phú Thọ chính là đất ươm trồng văn hóa làng xã với biểu hiện tập trung là lễ hội. Đến với Phú Thọ, người ta có thể tìm ra những lời giải đáp của quá khứ về văn hóa dân tộc đi từ cội nguồn, có thể xới lên nhiều tầng văn hóa chồng phủ lên nhau, trong đó có cả tầng nền móng để đi từ văn hóa Văn Lang tới văn hóa Đại Việt.